Văn nghệ

Chè xanh và cái tình của người Xứ Nghệ

04 Tháng Mười Một 2016 10:05 SA

“Trưa nắng hè gọi nhau râm ran chè xanh”

Cố nhạc sỹ An Thuyên đã thâu tóm thật tài tình vẻ đẹp trong lối sống và cái tình của người xứ Nghệ chỉ trong một câu hát nổi tiếng. Câu hát để lại trong lòng người Nghệ xa xứ và cả những người vốn không ở vùng đất này một nỗi bồi hồi về quê hương xứ sở.

Cùng với thời gian và sự phát triển của xã hội, xứ Nghệ cũng như bao miền quê khác đang dần dần mất đi nhiều nét đẹp truyền thống. Không còn những đêm trăng trên cánh đồng sau mùa gặt trai gái các làng tụ tập nhau hát đối đáp say sưa quên cả trời rạng sáng, trong những trận gió “nam cào” và tiếng sáo diều khuya vi vút. Không còn cảnh hát ví phường vải, phường nón ở các vùng, nhất là dọc hai bên bờ sông Lam như Nam Đàn, Nghi Xuân, Can Lộc… Lời ca điệu hát vẫn còn nhưng không diễn ra tự nhiên trong đời sống thường nhật mà chỉ được cất lên trong các dịp lễ tết, hội hè vốn rất ít ỏi ở vùng xứ Nghệ. Không còn những nét tự nhiên như khoảng 50 năm về trước. Hồi ấy xứ Nghệ còn khô cằn xơ xác lắm…

Theo tài liệu thì xứ Nghệ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh là châu Hoan- Diễn) cũ. Địa thế rộng nhưng đất xấu, chủ yếu là đồi, núi, sông, biển và… cát. Đất nghèo lại thêm thiên nhiên khắc nghiệt. Những vùng như Hương Khê (Hà Tĩnh) Tương Dương (Nghệ An) thuộc vào loại khô nóng nhất nước vào mùa hè. Lũ quét và bão cũng vào hàng nhất. Vì thế, dân xứ Nghệ nhiều người bỏ quê đi nơi khác kiếm sống, làm đủ nghề lao động nặng nhọc. Nét nổi bật là người Nghệ - Tĩnh ham học và học giỏi. Vì vậy, làm thầy đồ là nghề nghiệp của nhiều người. Xứ Nghệ từ xưa đã nổi tiếng bởi những ông đồ hay chữ. Nhận xét về con người xứ Nghệ, nhà nghiên cứu Văn học Đặng Thai Mai viết “Người Nghệ - Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến… cá gỗ”. Còn Giáo sư Trần Đình Hượu một nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng thì cho rằng “Nghệ - Tĩnh nổi tiếng là đất văn vật nhưng thanh lịch không thuộc tính chất người Nghệ - Tĩnh. Nghệ - Tĩnh không phải là đất đẻ ra những người tài tử, hào hoa phong nhã. Cái tiêu biểu của người Nghệ - Tĩnh là chí khí, nghị lực, gan góc, chịu đựng, ngang tàng không chịu ràng buộc đến thành ngang bướng. Là dân xứ nghèo, họ phải sống tằn tiện nhưng trọng danh dự, giàu tín nghĩa nên đối với bà con, làng xóm, khách khứa, bè bạn, nhất là việc chung, việc làng, việc nước họ lại trọng nghĩa, hào hiệp, rộng rãi, dễ coi thường tài sản, tính mạng”. Tất cả những nhận xét ấy có thể chưa thật đầy đủ nhưng đã nói lên được những nét rất bản chất của con người Nghệ - Tĩnh. Họ có phần vụng về, thô mộc trong giao tiếp, ứng xử nhưng tình nghĩa sâu sắc, trọng Danh hơn trọng Lợi. Và đó cũng là cái nôi nhân bản để cố nhạc sỹ An Thuyên viết nên câu ca ám ảnh hồn người.

Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa

Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa

Thế hệ những người trẻ tuổi bây giờ không thích uống chè xanh. Họ bảo uống vào nó cồn ruột. Trầu cau thì bỏ hẳn vì sợ bẩn, sợ “đen mồm”. Cũng như bao người trẻ ở những vùng quê khác, họ quen dùng nước sôi để nguội. Có điện, có tủ lạnh thì thêm nước khoáng, nước suối nên trưa hè không còn gay gắt như ngày xưa nữa. Mà đồng đất xứ Nghệ ngày nay cũng khác xưa nhiều. Từ khi có các công trình thủy lợi lớn như Vách Bắc, Kẻ Gỗ, xứ Nghệ trở nên tươi xanh, màu mỡ. Những trận gió Lào không còn rồng rộc đuổi nhau trên từng cánh đồng khô hạn, nứt nẻ, những buổi trưa hè nhìn vào làng mạc không còn thấy xơ xác lấp lóa ánh nắng như có lửa. Những cơn khát trưa hè vì thế cũng dịu đi. Thuở chúng tôi mới lớn lên, những công trình thủy lợi nói trên chưa có. Dân xứ Nghệ sau mùa chiêm (gặt vào khoảng tháng 5, tháng 6) là bỏ đồng không mặc cho gió Lào thổi trơ gốc rạ, chờ sau mưa lũ trắng trời trắng đất mới vào cày bừa cho vụ mùa. Và vì thế, mùa hè ở xứ Nghệ có vẻ dài, có cái gay gắt đặc biệt. Gay gắt nắng và gió, trưa không tài nào ngủ nổi nên càng khoái chè xanh. Mà độc đáo ở chỗ nồi nước chè xanh xứ Nghệ, xanh ngăn ngắt, uống vào tới đâu mát ruột mát gan tới đó. Người uống chưa quen cứ kêu đắng và chát, người uống quen rồi cứ thấy ngọt và thơm. Dân xứ Nghệ uống nước chè không bằng ly, bằng tách như người miền Nam, miền Bắc mà bằng “đọi” (bát). Bát sành sứ hoặc bát sắt như bát ăn cơm, bát càng to càng tốt. Nồi nước chè ngon nấu cũng đơn giản nhưng phải chọn nước. Muốn được nước xanh, không đổi màu, lâu thiu thì phải chọn nước ngon từ một vài cái giếng trong vùng. Thông thường đó là những giếng cổ, có từ đời xưa mà giữa mùa hè gay gắt nhất vẫn mát lạnh và cũng không bao giờ cạn. Nước được đựng trong những cái thạng (thùng được ghép bằng nhiều miếng gỗ, hình trụ, có đai bằng mây hoặc tre xung quanh) hoặc trong những cái nồi đồng lớn (nồi mười). Những chiếc nồi đồng, ấm đồng cổ theo thời gian không biết biến đi đâu nhưng với tuổi chúng tôi thì không thể nào quên được. Qua năm tháng, những chiếc nồi, chiếc ấm ngoài thì lọ đen nhẻm nhưng trong lòng vẫn cứ sáng bóng, sáng xanh lên mỗi khi được đem ra cọ rửa đơn giản chỉ bằng một nùi rơm với cát. Mà cũng rất lạ, dù nước để trong nồi rất lâu nhưng vẫn không hề có chuyện tanh mùi đồng như một số nồi mới đúc sau này. Để lâu ngày không sử dụng, nồi vẫn xanh, vẫn bóng chứ không như anh nồi nhôm để lâu bỗng dưng rỗ lỗ chỗ rồi đùn ra một thứ bột trăng trắng như bột phấn nhìn mà ớn. Chè xanh hái ngoài vườn hoặc mua ở chợ về muốn giữ tươi được lâu thì rửa thật sạch, xếp vào mo cau, hai ba lớp mo cau càng tốt. Bó lại cẩn thận nhưng đừng quá chặt, sau đó dốc ngược lên cho ôm vào cột nhà. Hàng buổi, dội từ đầu trên của mo cau xuống một gáo nước sạch. Dội từ từ, nhè nhẹ để nước kịp thấm vào thân và lá. Bằng cách đó, chè để hàng tuần mà vẫn tươi xanh. Khi dỡ ra khỏi mo cau, lá chè vẫn bám chắc vào thân mà không hề rụng. Nấu chè tươi cũng giống như ủ, đừng vội cho chè vào khi vừa mới bắc nồi lên. Phải chờ cho đến khi nước trong nồi sủi bọt lăn tăn mới cho chè vào. Trước đó, chè phải được rửa thật sạch, để ráo nước, lá chè phải vò sơ qua, thân thì bẻ thành từng đoạn ngắn, tước ra cho dễ ngấm. Bỏ chè vào rồi thì đừng đậy vung (nắp) thì nước mới xanh đồng thời cứ giữ lửa đều, để sôi chừng dăm phút rồi hãm lửa, chờ nguội. Nước chè được múc từ ấm ra bằng chiếc gáo dừa vì miệng chiếc ấm đồng nhỏ, chỉ gáo dừa mới lọt. Nếu nấu bằng nồi đồng thì có thể múc bằng mo cau (làm thành gáo, có cái cán cầm bằng tre) Thông thường, mỗi gáo dừa khi ra khỏi miệng ấm chỉ vừa đầy một bát, còn mo cau thì được nhiều hơn. Bát uống chè xanh xếp thành hàng trên chiếc chõng tre hay phản gỗ, mấy chục chiếc bày la liệt. Rót hết lượt là cũng vừa cạn ấm. Nhưng tuyệt đối không lấy đến khô kiệt mà phải để lại trong nồi hoặc ấm một ít nước cốt, cho thêm nước lã vào, đun sôi trở lại. Có thể làm như vậy nhiều lần mà người ta gọi là “hâm”. Càng hâm nhiều thì nước càng vàng, càng trắng rồi càng nhạt. Nhà nghèo, nồi nước có thể hâm đi hâm lại đến chục lần. Bát nước chè xanh tôi vừa kể ở trên với người dân xứ Nghệ thật vô cùng quý giá nhất là giữa “trưa nắng hè”. Nước chè xanh nguội, đậm đặc uống vào tới đâu biết tới đó. Nước chè giải nhiệt mà không làm người ta đổ mồ hôi nhiều như nước lã đun sôi. Vừa ngả nón hay chiếc quạt mo cau lấy cơn gió mát, vừa uống chè xanh, thêm nồi khoai lang luộc thì không còn gì bằng. Vùng quê xứ Nghệ, đất rộng, nhà cửa thưa thớt nên gia chủ chỉ cần ra đứng đầu ngõ “ơ bác, ơ chú, ơ anh… nước chè” là lập tức tín hiệu cứ thế lan truyền nhà này sang nhà khác. Chẳng mấy chốc mà khắp xóm đã có mặt. Vừa uống vừa ăn khoai, lạc luộc, bàn chuyện nhà cửa đồng áng râm ran. Thường thì kéo dài cả tiếng, gia chủ phải hâm đi hâm lại vài lần mới đủ. Còn nồi bã chè, mọi người về hết chủ nhà lại cẩn thận nhấc để lại trên bếp , còn uống đến mấy ngày sau. 

Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa

Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa

Thuở tôi lớn lên vẫn còn chiến tranh, vẫn còn làm ăn hợp tác, vẫn còn cảnh ngăn sông cấm chợ. Chè xanh không hợp với cát mà chỉ tốt ở vùng đồi núi. Mua và đưa được bó chè xanh từ mạn ngược về dưới biển là gian nan khổ ải vô cùng. Cá, ruốc từ dưới biển đưa lên rừng để đổi lại chè xanh, khoai sắn mà bị coi là buôn lậu, bị chặn bắt, tịch thu, cả đêm lẫn ngày. Nhiều bữa mẹ tôi khóc cạn nước mắt vì bị thu sạch trong khi ở nhà cả đàn con nheo nhách, sắn khoai không đủ bữa. Một bó chè xanh hồi đó có thể đổi khoai sắn cho cả nhà ăn được vài ngày. Vậy mà có ấm chè xanh không ai nỡ uống một mình nếu chưa có bà con, làng xóm.

Thế mới hiểu cái tình và cái hào sảng của con người xứ Nghệ.

 

 

Nguyễn Kim Hùng

Đối tác liên kết
Top