Khoa học

Nghiên cứu kéo dài thời gian bảo quản chế phẩm đấu tranh sinh học dạng sệt từ chủng trichoderma harzianum

18 Tháng Mười 2016 04:34 CH

TÓM TẮT

Việc sử dụng phân bón hóa học hay các loại thuốc bảo vệ thực vật mang lại hiệu quả nhanh chóng nhưng đồng thời cũng làm cho những giá trị chất lượng của lương thực – thực phẩm bị suy giảm. Thêm nữa là còn làm ảnh hưởng đến nhiều vấn đề khác như: ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, gây kháng thuốc hóa học nhanh chóng và nghiêm trọng nhất là gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Chính những điều này đã đặt ra vấn đề là bắt buộc chúng ta phải quan tâm đến cả sức khỏe và môi trường sống. Hiện nay, chính phủ các quốc gia trên thế giới đã đưa ra các cơ chế, chính sách phát triển bền vững, thân thiện với môi trường hơn trong lĩnh vực nông nghiệp bằng hình thức sử dụng phân bón sinh học và thuốc trừ sâu sinh học. Từ thực tế này, tác giả cũng mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc cải thiện môi trường sống của mình qua việc nghiên cứu nhằm tạo ra một công thức tối ưu có khả năng kéo dài thời gian bảo quản của chế phẩm đấu tranh sinh học dạng sệt từ chủng T. harzianum để phòng bệnh héo rũ ở dưa leo do R. solani gây ra. Kết quả đã cho thấy chế phẩm đấu tranh sinh học dạng sệt từ chủng T. harzianum có thể duy trì được hoạt tính ít nhất là 6 tháng.

Từ khóa: T. harzianum, R. solani, phân bón sinh học, thuốc trừ sâu sinh học.

ABSTRACT

The use of chemical fertilizer or pesticide chemical type brings immediate benefits but also makes the value of quality food - food decrease. Besides affects many other issues such as pollution of land, water, air, causing rapid chemical resistance and is the most serious affecting human health. It was this set of issues is imperative to pay attention to our health and the environment we live. All the governments of the countries in the world give policies, mechanisms sustainable development, more environmentally friendly agriculture in the form of bio-fertilizer and bio-pesticides. From this fact, we also wish to contribute a small part in improving their living environments through research to create an optimal formula capable of prolonged storage time of struggle preparations viscous form of biological species T. harzianum to prevent wilt in cucumber by R. solani causes.

Keywords:  Chemical fertilizer, T. harzianum, R. solani, bio-fertilizer, bio-pesticide.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, nhờ phổ cập kiến thức về việc sử dụng những chế phẩm đấu tranh sinh học mà nhiều nông dân đã xem đây như là một giải pháp tối ưu trong cải thiện năng suất mùa màng, giảm ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe. Do đó, các sản phẩm sinh học ứng dụng trong nông nghiệp ngày càng đem lại những khoản lợi nhuận lớn cho các nhà thương mại. Đồng thời cũng kích thích các nhà Khoa học hướng mũi nghiên cứu vào lĩnh vực này.

Hàng loạt các chủng vi sinh vật (như Bacillus thuringiensis, Trichoderma sp., nucleopolyhedrosis virus, Beauveria sp., Rhizobia, Azotobacter, Azospirillum, ….) được nghiên cứu, phát hiện chúng thân thiện với môi trường và có lợi cho ngành nông nghiệp. Do đó, vô số các sản phẩm đấu tranh sinh học đa dạng về thể loại trên thế giới được sản xuất rộng rãi. Một trong những chủng vi sinh vật được quan tâm đáng kể hiện nay là Trichoderma sp. do chúng có nhiều tính năng có lợi như: chống được các loại nấm bệnh cây trồng như (Rhizoctonia solani, Fusarium solani, Phytophtora, Sclerotium rolfsii,…); gây bệnh thối rễ, chết yểu, xì mủ,…

Theo Rao và Ramachandran, công thức để sản xuất chế phẩm đấu tranh sinh học từ T. harzianum dạng lỏng cũng tốt như công thức dạng rắn. Tuy nhiên, theo Pandey và cộng sự (2000) thì công thức lên men dạng lỏng để sản xuất chế phẩm đấu tranh sinh học thì đòi hỏi điều kiện phải vô trùng. Còn trong công thức lên men rắn giúp vi sinh vật phát triển mạnh trong điều kiện thiếu nước và không cần điều kiện vô trùng nghiêm ngặt. Mặc dù công thức lên men dạng rắn có lợi về kinh tế hơn so với công thức lên men dạng lỏng nhưng ở một số sản phẩm thì công thức lên men dạng rắn làm giảm khả năng phát triển của vi sinh vật và dễ bị tạp nhiễm.

Trong nghiên cứu của Sathiyaseelan và cộng sự (2009) đã kết luận rằng khả năng đối kháng của Trichoderma trong công thức dạng lỏng sẽ tốt hơn rất nhiều trong công thức dạng rắn.

Trong đề tài này, chúng tôi muốn khắc phục những nhược điểm từ công thức sản xuất chế phẩm đấu tranh sinh học dạng lỏng từ T. harzianum. Đó là vi sinh vật sẽ chết hoặc mất hoạt tính nếu hàm lượng chất dinh dưỡng đã cạn kiệt trong công thức bảo quản. Với nghiên cứu này chúng tôi mong muốn tạo ra một chế phẩm sinh học từ chủng T. harzianum dạng sệt có thời gian bảo quản từ 6 tháng hoặc hơn mà hoạt tính của chủng vi sinh vật trong sản phẩm vẫn đảm bảo hoạt động tốt.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. VẬT LIỆU

Chủng vi sinh vật dùng trong thí nghiệm:

- Chủng nấm mốc Trichoderma: chủng Trichoderma harzianum (do Phòng Vi sinh, Viện Sinh học Nhiệt đới cung cấp).

- Chủng Rhizoctonia solani (Phòng các chất có hoạt tính Sinh học, Viện Sinh học Nhiệt đới cung cấp).

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.2. Khảo sát hiệu quả đối kháng của Trichoderma harzianum đối với chủng Rhizoctonia solani phân lập trên môi trường thạch đĩa

Trên môi trường thạch đĩa PDA, cấy điểm nấm T. harzianum với chủng nấm gây bệnh R. solani với khoảng cách 4 cm, ủ ở nhiệt độ phòng trong 6 ngày. Tính % khuẩn lạc R. solani bị nhiễm. Thí nghiệm lập lại 5 lần, mỗi lần 5 mẫu.

2.2.3. Phương pháp xử lý chế phẩm T. harzianum phòng bệnh héo rũ dưa leo do R. solani gây ra

- Gây nhiễm nhân tạo. Thực hiện bao gồm các nghiệm thức sau:

CT1: ngâm hạt dưa leo trong dịch nấm R. solani trong 15 phút, rồi đem gieo.

CT2: ngâm hạt dưa leo trong dịch nấm R. solani trong 15 phút, rồi đem gieo, đến khi cây 2 lá mầm thì xử lý bằng dịch nấm T. harzianum.

CT3: ngâm hạt dưa leo cùng một lúc trong hỗn hợp gồm 2 dịch nấm R. solani T. harzianum trong 15 phút rồi đem gieo.

CT4: ngâm hạt dưa leo trong dịch nấm T. harzianum trong 15 phút, rồi đem gieo, đến khi cây 2 lá mầm thì xử lý bằng nấm R. solani.

- Thí nghiệm lặp lại 3 lần, mỗi lần 50 hạt dưa leo trên mỗi nghiệm thức.

- Chỉ tiêu theo dõi: Tính tỷ lệ bệnh; Hiệu lực phòng trừ theo công thức Abbott.

2.2.4. Phương pháp xác định ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy và thành phần các chất trong môi trường nuôi cấy thu sinh khối T. harzianum dạng paste trong công thức bảo quản

- Sinh khối T. harzianum dạng paste được thu sau những giai đoạn thời gian nuôi cấy khác nhau: 24, 48, 72, 96 giờ. Mỗi giai đoạn thời gian có 8 mẫu thí nghiệm, mỗi mẫu khác nhau về thành phần các chất dinh dưỡng. 8 mẫu sinh khối T. harzianum dạng paste thu ở giai đoạn 48 và 72 giờ được bổ sung thêm 5% (w/w) tinh bột và được điều chỉnh pH = 3 bằng dung dịch HCl 20%. 8 mẫu sinh khối T. harzianum dạng paste thu ở giai đoạn 24 và 96 giờ vẫn giữ nguyên, không bổ sung thêm tinh bột và điều chỉnh pH.

- Các mẫu thí nghiệm khác nhau về thành phần các chất như sau:

Thành phần

Số thứ tự mẫu thí nghiệm

1

2

3

4

5

6

7

8

Mật mía (ml/L)

30

30

30

30

30

30

30

30

Urea (g/L)

0.5

-

0.5

-

-

0.5

-

-

KH2PO4 (g/L)

2.0

2.0

1.0

2.0

2.0

2.0

2.0

2.0

MgSO4 (g/L)

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

Sodium citrate (g/L)

0.3

0.3

0.3

-

-

-

0.3

-

CaCO3 (g/L)

-

-

-

-

0.1

0.1

-

0.1

(NH4)2SO4 (g/L)

-

-

-

-

-

-

1.1

1.1

Sucrose (g/L)

-

-

-

-

-

10

10

10

- Thí nghiệm thực hiện lặp lại 3 lần, mỗi lần 3 mẫu.

- Sau 14 và 21 ngày, tiến hành khảo sát hiệu quả đối kháng của T. harzianum đối với chủng R. solani.

- Trong thí nghiệm này còn tiến hành xác định thành phần các chất còn lại qua các giai đoạn thời gian trong các mẫu thí nghiệm: Xác định hàm lượng đường bằng phản ứng so màu; hàm lượng amine nitrogen bằng nitơ formol; hàm lượng ammonia nitrogen theo phương pháp Nestler; hàm lượng phosphate bằng thuốc thử màu Molybdic; hàm lượng tinh bột bằng phản ứng màu với iod.

2.2.5. Phương pháp xác định ảnh hưởng của oxi lên sinh khối T. harzianum dạng paste trong những công thức bảo quản

Để tiến hành thí nghiệm này, chúng ta sử dụng ống nghiệm có kích thước: cao 18 cm, đường kính 1.5 cm.

Các mẫu sinh khối T. harzianum được tiến hành như sau:

Mẫu thí nghiệm

Độ sâu sinh khối

pH

Tinh bột 5% (w/w)

1

2cm

6.8 - 7

-

2

2cm

3

-

3

2cm

3

+

4

7cm

6.8 - 7

-

5

7cm

3

-

6

7cm

3

+

7

15 cm

6.8 - 7

-

8

15 cm

3

-

9

15 cm

3

+

- Thí nghiệm thực hiện lặp lại 3 lần, mỗi lần 3 mẫu.

- Sau 17 và 23 ngày, tiến hành khảo sát hiệu quả đối kháng của T. harzianum ở các mẫu thí nghiệm đối với chủng R. solani phân lập trên môi trường thạch đĩa PDA.

2.2.6. Khảo sát ảnh hưởng của pH, tinh bột và CuSO4 lên sinh khối T. harzianum dạng paste trong công thức bảo quản

- Những mẫu sinh khối T. harzianum dạng paste được điều chỉnh pH và bổ sung tinh bột theo bảng, các mẫu được chứa trong những lọ 50 ml đậy kín và được bảo quản ở nhiệt độ phòng.

- Thí nghiệm thực hiện lặp lại 3 lần, mỗi lần 3 mẫu.

- Sau 75, 110 và 180 ngày, tiến hành khảo sát hiệu quả đối kháng của T. harzianum ở các mẫu thí nghiệm đối với chủng R. solani phân lập trên môi trường thạch đĩa PDA.

- Mẫu có khả năng đối kháng cao nhất đối với R. solani sau thời gian 180 ngày được xem như là một chế phẩm sinh học dạng sệt và được đem thực hiện phòng bệnh héo rũ ở dưa leo do R. solani gây ra sau khi được pha loãng ở nồng độ thích hợp (khoảng 106 bt/ml).

2.2.7. Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu thu được từ thí nghiệm 2.2.6 được phân tích biến lượng ANOVA (Analysis of Variance) và trắc nghiệm LSD (Least Significance Difference) để phân hạng các nghiệm thức bằng phần mềm Statgraphics 16.

- Các số liệu thu được từ các thí nghiệm còn lại được xác định bằng phần mềm Microsoft Excel 2007.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát ảnh hưởng của pH, sự rửa sinh khối và tinh bột trong công thức bảo quản sinh khối Trichoderma harzianum dạng paste

Dựa theo kết quả của việc khảo sát khả năng đối kháng của T. harzianum đối với R. solani qua các giai đoạn thời gian sau 17 ngày và sau 21 ngày bảo quản chúng tôi thu được:

Ảnh hưởng việc rửa, điều chỉnh pH và bổ sung tinh bột lên khả năng đối kháng của T. harzianum đối với R. solani trong công thức bảo quản

Như vậy, việc rửa sinh khối đã làm khả năng sống sót và cạnh tranh của T. harzianum bị giảm so với những mẫu trong công thức bảo quản không có tiến hành rửa sinh khối. Do khi rửa sinh khối T. harzianum dạng paste đã làm mất đi những chất dinh dưỡng vẫn còn tồn tại trong sinh khối dạng paste khi đem đi bảo quản. Điều này dẫn đến việc thiếu hụt nguồn dinh dưỡng trong quá trình bảo quản.

Tinh bột ở đây được xem như là một nguồn hydrocarbon thay thế vì các chủng Trichoderma có các enzyme thủy phân được tinh bột. Tuy nhiên, ở những mẫu tiến hành rửa sinh khối mặc dù được bổ sung thêm tinh bột nhưng tỷ lệ cạnh tranh ta thấy vẫn thấp hơn so với những mẫu không có thực hiện việc rửa. Điều này có thể do quá trình rửa đã gây sốc thẩm thấu hay tổn thương đến khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của sợi nấm nên cũng ít nhiều gây ảnh hưởng đến sự sống của sợi nấm.

So sánh với mẫu cùng được bổ sung tinh bột với liều lượng như nhau nhưng nếu mẫu nào có điều chỉnh pH về mức acid (pH = 3) so với giữ nguyên độ pH ban đầu (pH = 7) thì ta thấy mẫu đó có khả năng sống sót và cạnh tranh cao hơn. Sự khác biệt này có thể do việc giảm pH đã làm cho sinh khối của chủng T. harzianum trong các mẫu bảo quản chuyển từ dạng sinh dưỡng sang dạng tiềm sinh nên đã làm giảm khả năng sử dụng tinh bột.

3.2. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy và thành phần các chất trong môi trường nuôi cấy sinh khối Trichoderma harzianum dạng paste trong công thức bảo quản

3.2.1. Khảo sát ảnh hưởng của lượng đường theo thời gian

Hàm lượng đường còn trong các mẫu paste thu sau các giờ nuôi cấy qua các giai đoạn thời gian

Hàm lượng đường còn trong các mẫu paste thu sau các giờ nuôi cấy qua các giai đoạn thời gian

Theo nghiên cứu của Said (2007), chủng T. harzianum bắt đầu hình thành bào tử sau 24 giờ nuôi cấy. Bào tử có khả năng tiêu thụ chất dinh dưỡng thấp hơn rất nhiều so với sợi nấm. Do đó, ở sinh khối T. harzianum ở những mẫu sau 96 giờ nuôi cấy có chứa cả sợi nấm, bào tử và đính bào tử nhiều nên khả năng nhu cầu sử dụng các chất dinh dưỡng giảm đi đáng kể so với những mẫu sinh khối T. harzianum sau 24 giờ nuôi cấy do chứa sinh khối chủ yếu là sợi nấm. 

3.2.2. Khảo sát ảnh hưởng của lượng tinh bột theo thời gian

Hàm lượng tinh bột còn trong các mẫu paste thu sau 48 và 72 giờ nuôi cấy sau thời gian bảo quản 21 ngày

Hàm lượng tinh bột còn trong các mẫu paste thu sau 48 và 72 giờ nuôi cấy sau thời gian bảo quản 21 ngày

Hàm lượng tinh bột trong công thức bảo quản của các mẫu sinh khối thu sau 48 giờ nuôi cấy giảm chậm hơn so với các mẫu 72 giờ. Điều này có thể do thời gian của quá trình nuôi cấy ở mẫu 72 giờ dài hơn, nên khả năng tiêu thụ hàm lượng đường trong quá trình nuôi cấy nhiều hơn, vì vậy hàm lượng đường còn sót lại trong sinh khối khi đem bảo quản rất ít nên sợi nấm đã sử dụng tinh bột thay cho hàm lượng đường đã hết.

Trong các mẫu 6, 7, và 8 có bổ sung thêm nguồn hydrocarbon khác là đường sucrose nên có thể sợi nấm T. harzianum đã sử dụng một phần nguồn hydrocarbon này trong quá trình được bảo quản. 

3.2.3. Khảo sát ảnh hưởng của lượng phosphate theo thời gian

Hàm lượng KH2PO4 còn trong các mẫu paste thu sau các giờ nuôi cấy qua các giai đoạn thời gian

Hàm lượng KH2PO4 còn trong các mẫu paste thu sau các giờ nuôi cấy qua các giai đoạn thời gian

Trong các mẫu sinh khối T. harzianum dạng paste thu sau 24 và 96 giờ nuôi cấy đem bảo quản ta thấy hàm lượng phosphate giảm nhiều hơn so với các mẫu bảo quản thu sinh khối sau 48 và 72 giờ. Điều này có thể do các mẫu này khi tiến hành đem bảo quản thì không có điều chỉnh pH về acid (pH = 3) vẫn giữ nguyên mức pH ban đầu (pH = 7) nên khả năng tiêu thụ chất dinh dưỡng trong đó có hàm lượng phospho từ KH2PO4 mạnh hơn.

3.2.4. Khảo sát ảnh hưởng của lượng nitơ theo thời gian

Hàm lượng (NH4)2SO4 còn trong các mẫu paste thu sau các giờ nuôi cấy qua các giai đoạn thời gian

Hàm lượng (NH4)2SO4 còn trong các mẫu paste thu sau các giờ nuôi cấy qua các giai đoạn thời gian

Trong thời gian bảo quản sinh khối T. harzianum dạng paste ta thấy hàm luợng nitơ trong các thành phần là ure và (NH4)2SO4 ở các mẫu có bổ sung đều giảm nhưng tốc độ rất chậm. Điều này đã chứng tỏ rằng trong quá trình bảo quản T. harzianum nguồn nitơ ít ảnh hưởng đến chủng.

3.2.5. Khảo sát ảnh hưởng của các thành phần trong công thức bảo quản đến khả năng sống sót và hoạt tính sinh học của Trichoderma harzianum

Khả năng cạnh tranh của T. harzianum đối với R. solani trong các mẫu paste thu sau các giờ nuôi cấy

Khả năng cạnh tranh của T. harzianum đối với R. solani trong các mẫu paste thu sau các giờ nuôi cấy

Trong thí nghiệm này đã cho ta thấy được tầm quan trọng của nguồn dinh dưỡng hydrocacbon trong việc duy trì khả năng sống sót và hoạt tính của sợi nấm trong công thức bảo quản. Đồng thời, một lần nữa lại nhấn mạnh được vai trò của yếu tố pH trong việc chuyển sinh khối chủng nấm T. harzianum từ dạng sinh dưỡng sang dạng tiềm sinh. Ngoài ra, để bảo quản tốt hơn, nên thu sinh khối ở giai đoạn khoảng sau 48 giờ nuôi cấy.

3.3. Khảo sát ảnh hưởng của oxi lên sinh khối Trichoderma harzianum dạng paste trong công thức bảo quản

Khả năng cạnh tranh của T. harzianum đối với R. solani của các mẫu trong thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của oxi sau 17 và 23 ngày bảo quản

Khả năng cạnh tranh của T. harzianum đối với R. solani của các mẫu trong thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của oxi sau 17 và 23 ngày bảo quản

Mặc dù oxi có thể đi vào ống nghiệm được (do đậy bằng nút bông), nhưng nếu sinh khối quá nhiều (sinh khối đầy ống nghiệm ≈ 15cm) thì những sợi nấm ở phía bên dưới không tiếp xúc được với oxi. Do đó những sợi nấm ở phía bên dưới không đủ lượng oxi cho quá trình hô hấp. Điều này là một trong những nguyên nhân làm cho sợi nấm bị chết.

3.4. Khảo sát ảnh hưởng của pH, tinh bột và CuSO4.5H2O lên sinh khối Trichoderma harzianum dạng paste trong công thức bảo quản

Bảng: Khả năng cạnh tranh của T. harzianum đối với R. solani sau các thời gian bảo quản 110, 180 ngày trong thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của pH, ion đồng, và tinh bột trong công thức bảo quản

Ghi chú: % P: phần trăm đường kính khuẩn lạc R. solani bị nhiễm

* Các ký tự khác nhau theo sau các giá trị trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức ở P <= 0.05

Khả năng cạnh tranh của T. harzianum đối với R. solani sau các thời gian bảo quản 75, 110, 180 ngày trong thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của pH, ion đồng, và tinh bột trong công thức bảo quản

Khả năng cạnh tranh của T. harzianum đối với R. solani sau các thời gian bảo quản 75, 110, 180 ngày trong thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của pH, ion đồng, và tinh bột trong công thức bảo quản

Một số mẫu ở pH = 3 và một số mẫu ở pH = 4 nếu được bổ sung tinh bột đầy đủ và lượng CuSO4.5H2O phù hợp thì có khả năng sống sót và hoạt tính sinh học được duy trì lâu hơn như ở mẫu số 1/3, 1/9 và 2/9. Ở những mẫu khả năng sống sót và cạnh tranh của chúng đối với R. solani giảm mạnh có thể do hàm lượng chất dinh dưỡng không đủ để sinh khối chủng T. harzianum duy trì sự sống hoặc cũng có thể do hàm lượng CuSO4.5H2O quá thấp không đủ để làm giảm khả năng hô hấp của sợi nấm nên quá trình biến dưỡng xảy ra mạnh.

Tỉ lệ bệnh  và Hiệu lực phòng trừ bệnh khi tiến hành lây nhiễm nhân tạo R. solani và xử lý bệnh bằng chế phẩm T. harzianum sau 180 ngày bảo quản của mẫu 1/9

* Các ký tự khác nhau theo sau các giá trị trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức ở P <= 0.05

Pha loãng mẫu 1/3, 1/9 và 2/9 để đạt nồng độ cần sử dụng là 106 (bt/ml).

Từ kết quả của các nghiệm thức khi tiến hành lây nhiễm nhân tạo R. solani trên cây dưa leo và được xử lý bệnh với chế phẩm T. harzianum sau 180 ngày bảo quản đã cho thấy được: để đạt được hiệu quả phòng trừ bệnh cao nhất chúng ta nên tiến hành theo công thức 4: ngâm hạt dưa leo trong dịch nấm T. harzianum trong 15 phút, rồi đem gieo, đến khi cây 2 lá mầm thì xử lý bằng nấm R. solani.

4. KẾT LUẬN

Như vậy, để bảo quản chế phẩm sinh học từ chủng T. harzianum ở dạng sệt đạt hiệu quả cao thì yếu tố quan trọng hàng đầu trong công thức bảo quản là phải có chứa đủ nguồn dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu sử dụng của sợi nấm ở mức tối thiểu bằng bổ sung thêm là 10% (w/w) tinh bột. Yếu tố thứ hai là phải hạn chế khả năng sử dụng nguồn dinh dưỡng đó một cách tối đa thì thời gian bảo quản sẽ càng dài, và để đáp ứng điều này thì cần điều chỉnh pH của công thức bảo quản xuống thấp (pH =3 - 4) nhưng vẫn không làm mất khả năng đối kháng của sợi nấm. Đồng thời, quá trình bảo quản là một quá trình kín. Do đó, lượng oxi cung cấp cho sợi nấm có phần hạn chế. Để khắc phục điều này chúng ta cần bổ sung thêm một lượng nhỏ CuSO4.5H20 với mức khoảng 60 mg/l nhằm làm giảm khả năng hô hấp của sinh khối. Nhờ đó mà sinh khối T. harzianum dạng sệt có khả năng sống sót lâu mà vẫn giữ được hoạt tính đối kháng sinh học (khoảng 6 tháng hoặc hơn).

5. TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Trường Thọ (2004),  Nghiên cứu sử dụng nấm mốc Trichoderma harzianum phòng bệnh héo rũ cây dưa leo do Pythium sp, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Tự Nhiên TPHCM.

[2] Kapri A. and Tewari L. (2/2010), “Phosphate solubilizaton potential and phosphatase activity of  Rhizospheric Trichoderma spp.”, Brazillian Journal of Microbiology.

[3] Kolombet L. V., Zhigletsova S. K., Kosareva N. I, Bystrova E. V., Derbyshev V. V., Krasnova S. P., Schisler D. (2007), “Development of an extended shelf-life, liquid formulation of the biofungicide Trichoderma asperellum”, World J Microbiol Biotechnol, vol. 24, pp. 123-131.

[4] Kubicek P. C. and Harman G. E. (2002), Trichoderma and Gliocladium, Vol. 2: Enzymes, Biological Control and Commercial Applications.

[5] Pacheco chavez R. A., Carvalho J. C. M., Converti A., Perego P., Tavares L. C., Sato S. (2004), “Production of a-amylases and glucoamylase from different starches by a new Trichoderma sp. isolate”, Annals of Microbiology, vol. 54(2), pp. 169-180.

 [6] Rao M. S., Ramachandran N. (2007), “Process for Producing a Bio-Pesticide Composition Containing Trichoderma Harzianum and Pseudomonas Fluorescens”, Department of Biotechnology.

[7 Said S. D. (2007), “ Spore Production of Biocontrol Agent Trichoderma harzianum: Effect of C/N ratio and Glucose Concentration”, Jurnal Rekayasa Kimia dan Lingkungan, vol. 6(1), pp. 35-40.

[8] Smolinska U., Kowalska B., Oskiera M. (2007), “The effectivity of Trichoderma strains in the protection of cucumber and lettuce against Rhizoctonia solani”, Vegetable Crops Research Bulletin, vol. 67, pp. 81-HỌC

Đối tác liên kết
Top